mãn lại tiếp tục trèo lên lần nữa...Tinh khí tiêu hao nên nội tạng yếu .Bệnh chứng là tinh khí rỉ ra không ngừng (di tinh) làm cho máu huyết trong người ra cạn, da dẻ có màu tái xám, mét chì, lổ đái đau đớn, nước tiểu màu đỏ như có lẫn máu. 
Thể vị giao hợp để trị bệnh này như sau: 
-Nữ nhân nằ ngữa, đít kê trên cái ghế để nâng âm hộ lên cao,hai đùi dang rộng, đưa háng ra rõ ràng . 
-Nam nhân qùy ở giữa hai đùi nữ nhân, đâm dương vật vào, nữ nhân chuyển động hậu thân liên tục nhưng khi đã thỏa mãn thì ngừng lại tức thì (để trách kích thích thêm làm cho nam nhân xuất tinh ). 
-Nam nhân vẫn theo nguyên tắc không xuất tinh .Thi hành mỗi ngày chín lần,trong vòng mười ngày sẽ trị được các chứng bệnh trên. 
GHI CHÚ: 
Ta thấy rõ ràng tổn thứ tư, tổn thứ năm, tổn thứ sáu đều là những điều làm hại cơ thể do sự giao hợp quá độ và không tiết chế sự xuất tinh mà gây ra. Trị các tổn thất này đều cần là các thể vị giao hợp cũa nữ nhân ở trên tạo thoải mái cho nam nhân, không cần phí nhiều sức lực .Chỉ có tổn thứ bảy là cần vị trí của nam nhân ở trên mà thôi . 
Tất cả các thể vị để trừ bảy tổn là để cho nữ nhân nắm vai trò chủ động, chủ động việc tạo khoái lạc và chủ động không để nam nhân xuất tinh. Các vị trí này thay đổi khác nhau là để thay đổi vị thế kích thích kéo dài thời gian giao hợp .... 
Y học Trung Quốc cho rằng con mắt và lá gan là hai cơ quan cảm ứng đối với nhau, liên hệ nhau mật thiết, cho nên thường thường bệnh gan thì mắt hoa choáng váng . 
Người Trung Hoa cho rằng mắt là cửa sổ (song bộ) của nội tạng, phản ánh tình trạng của các cơ quan. Mắt cũng là cửa sổ của tính ái, trạng thái tình dục. Điều xác định này rất phù hợp với y giới cận đại. 
Người Trung Hoa cho rằng tròng đen của mắt mà thật đen là biểu hiện của sự buông thả của nhiệt tình. Cặp mắt mà tròng đen có viền ánh lên màu anh hoa (đen pha nâu) thì biếu lộ tính khí vượng thịnh, dồi dào, nội tạng mạnh mẽ, kiện khang, không bị tổn hại, sinh hoạt tình dục rất bình thường. 
Nếu tròng trắng mắt có màu anh hoa thì đó là biểu hiện của nhiệt tình sung mãng, mạch máu vận hành điều hòa, sức khỏe tốt. Đối với loại nữ nhân này âm hộ luôn luôn có ôn độ thích hợp (âm ấm), luôn luô n sẵn sàng cho cuộc mây mưa vì sự ham muốn về tính dục rất mạnh mẽ . 
Nữ nhân mà mắt nháy mãi không thôi tức là biểu thị tính dục bị nguy kịch không còn thích thú nữa. Mắt gan liên quan nhau nên gan bị bệnh thì tâm bất an, mắt nháy chớp. 
Muốn cho đời sống tình dục mạnh phải để cho nội tạng mạnh mẽ,cường tráng, không bị bệnh. Chương này đưa ra nguyên tắc "nghiêng trút mà không đổ" (dốc nhi bất tiết), nam nhân phải giữ đó làm mối chánh. Nguyên tắc này lại dưa trên thể vị chủ động của nữ nhân lúc giao hợp, không phải là thể vị để làm tăng khoái cảm giao hợp mà là để chữa các bệnh trạng sanh ra do giao hợp quá nhiều. 
Ngoài cách giao hợp các thuốc bổ cũng rất cần thiết .Nếu tinh thần bị giảm yếu thì phải thường dùng bồ câu để cho tinh khí trở lại mạnh mẽ.Đời đường Võ Tắt Thiên đã bảy mươi tuổi mà tinh lực vẫn còn mạnh vì bà ngâm rượu bồ câu gọi là "Võ Hậu Tửu" loại rượu này trong sách "Võ hậu ngoại truyện" có nhắc tới . 
"Rượu Võ Hậu" gồm nguyên liệu đã được bào chế như sau: 
-Rượu trắng dùng để đốt nóng một con chim bồ câu sau khi đã bỏ lông, chặt bỏ đầu và vứt bỏ tất cả bộ đồ lòng . 
- 50 grm Hà Thủ Ô. 
- 10 grm lộc nhung (gạc nai nón) 
- 100 grm nhân sâm triều tiên. 
Tất cả bỏ vào một cái tô, đổ thêm rượu trắng vào. Đốt lửa ở dưới tô nấu trong vòng năm mươi phút. Xong để nguội. Đem phơi nắng vài ba giờ để lấy hơi sương và không khí. Đoạn cho thêm rượu vào và nấu lần nữa trong khoảng ba mươi phút,lại để nguội và đem phơi nắng một lần nữa. Lần này khoảng hai mươi phút thôi. tất cả được đem ngâm vô rượu, thêm một chút mật ong. Niêm phong thật kín để trong chỗ mát (lấy hơi ấm). Ba tháng sau rượu đã có hiệu lực, dùng được. Mỗi ngày uống một ly nhỏ thì chẳng những vấn đề sinh lý mạnh mẽ mà các chứng bệnh do sinh lý quá độ cũng không thể phát sinh. Rượu Võ Hậu có tác dụng thức dùng đúng thời tiết theo phương pháp luyện cho thân thể khang kiện của tiên gia: mùa xuân thì dùng ý dĩ nhân, mùa hạ thì dùng đậu xanh, mùa thu thì ăn hạt sen, mùa đông thì ăn đậu phụng. Mỗi thứ ăn ba tháng trong năm. 
Gần đây, ý dĩ nhân được dùng để phòng ngừa ung thư như trong y học mới.Ý dĩ nhân còn là thứ dược liệu dùng để bổ gan, lợi tiểu,giúp cho bao tử tiêu hóa mạnh mẽ.Ý dĩ nhân còn có công dụng ở các bệnh khác. Chẳng hạn bệnh mồ hôi chân,bệnh đường tiểu, bệnh bạch đản. Dối với các bệnh này bào chế như sau: 
- Ý Dĩ Nhân một lượng 
- 4 grm cam thảo 
- Đổ vô hai chén nước, nấu trong nữa giờ còn lại nữa chén. 
Buổi sáng trước khi ăn sáng nữa giờ uống một lần. Dùng xác thuốc còn lại cho thêm nước vào nấu lại để uống nước nhì nữa giờ trước khi đi ngủ (ngày uống hai lần) 
Ngày xưa người ta hay dùng hồ đào vì hồ đào là loại rất bổ cho việc tính giao. Hồ đào còn có tính chất làm cho ngủ ngon (trị bệnh mất ngủ) và chữa được vài trường hợp suy yếu thần kinh. 
Ông Thái Nhất Phan nói rằng muốn cho dương vật cường tráng thì ăn hồ đào cả vỏ. Lần đầu ăn một trái, cách năm ngày tăng thêm một trái nữ a, cứ như vậy cho tới khi ăn mỗi ngày hai mươi trái thì mỗi ngày thì hiệu qủa trông thấy: thằng nhỏ cứng, nóng lúc nào cũng sẵn sàng lâm trận.
Ba mươi vị thế lâm trận
(Theo Đạo gia Động Huyền Tử tiên sinh)

Chương này là chương luận lý về vị thế tính giao do ông Động Huyền Tử tiên sinh là người theo trường phái Đạo Gia, tên thật là Trương Đĩnh. 
Ba mươi vị thế là những vị thế rất cơ bản trong sinh hoạt phòng trung, so với cửu pháp đã nói ở các chương trên là hơi lhác đôi chút nhưng đại để thì giống nhau. Chỉ khác mục đích Cửu Pháp có mục đích dưỡng sinh, Tam Thập Pháp (ba mươi thế vị) trái lại lấy sự khoái cảm làm cơ bản. 
Động Huyền Tử tiên sinh nói: 
"Giao tiếp đích tư thế, đại ước bất xuất tam thập chủng, kỳ trung hữu tiền hậu khuất trập, thượng hạ, phủ ngưỡng, đẳng đẳng. ... tuy nhiên đại thể tương đồng, khước dã kỷ cương la nhất thiết phương pháp, tơ hào một hữu di lậu đích." 
Nghĩa là: "Tư thế giao tình không ngoài ba chục kiểu, trong đó co, thẳng, nằm trên, nằm dưới,đằng trước, đằng sau,đại đồng nhưng tiểu dị. Đem ba mươi kiểu này làm cơ bản thì bao gồm các kiểu khác, không còn kiểu nào khác hơn". 
Tự trù mâu: Quấn quít, nam nữ quyện lấy nhau. 
Thân khiển quyển:Nam, nữ thân mật nắm tay nhau vuốt ve. 
Bạo tự ngư: Khi người nữ hứng tình, âm hộ cương lên, cứng gồ giống như cá cong mình nhảy vượt lên trên không trung. 
Kỳ lân giác: Như trên, nghĩa là âm hộ nữ nhân cương cứng, cong mu lên như hình sừng con kỳ lân. 
Bốn trạng thái trên là bốn hình thức sửa soạn trước cuộc giao tình không ai mà không có. Các hình thức sau đây mới là vị thế giao hợp. 
Toản mặc cẩm: Nữ nhân nằm ngữa,hai tay choàng qua cổ nam nhân, kẹp hai chân lên lưng nam nhân. Cả tứ chi kéo nam nhân về phía mình. Trong khi đó nam nhân ôm choàng lấy cổ nũ nhân, thân mình choàng xuống giữa hai đùi nàng. Hai cơ quan sinh dục đối mặt. Đâm vào nhau. 
Long uyển chuyển: Nữ nhân nằm ngửa, co hai đùi, giơ thẳng lên về phía trước. Nam nhân qùy ở giữa đùi nữ nhân. Hai tay nắm phía sau của hai đầu gối đẩy về phiá trước. Có thể đẩy tới khi đùi nữ nhân đụng được nhũ hoa, ở vị trí này âm hộ trình bày tư thế sẵn sàng nghinh đón dương vật. 
Ngư tỉ mục: Hai phái nam nữ nằm ngang. Nữ nhân gác một chân lên mình nam nhân. Miệng và miệng kề nhau. Nút lưỡi.Nam nhân khi hứng tình đưa một tay kéo đùi nữ nhân giơ hơi cao lên trong khi đó hai chân mình vẫn thẳng hàng. Dương vật đâm xuyên vào. 
Yến đồng tâm: Nữ nhân nằm ngữa, lưng sát giường, hai chân hơi dạng ra và đưa lên trên không. Nam nhân nằm úp lên trên bụng nữ nhân hai tay choàng qua sau cổ người bạn mình. Nữ nhân cũng vậy ôm lưng nam nhân, kéo mạnh về lòng mình. Dương cụ càng đâm vào càng sâu càng tốt. 
Phỉ thuý giao: Nữ nhân nằm ngửa, lưng sát giường, hai chân hơi dạng ra và đưa lên trên không. Hai đùi cong lại. Nam nhân ngồi phía dưới, hai đùi dang ra kềm hai đùi của nữ nhân. Hai tay ôm chặt eo ếch của bạn. Cử chỉ này vừa tạo vị thế tiện lợi cho dương cụ đâm thẳng vào thâm cung vừa kích thích vùng âm hạch của nữ nhân để gợi hứng tình. 
Uyên ương hợp: Nữ nhân nằm nghiêng. Nam nhân nam phía sau, hai đùi ở giữa hai đùi nữ. Đâm từ phía sau tới chêng chếch. Không phiên diệp: 
Nam nhân nằm ngữa, banh hai chân ra. Nữ nhân ngồi lên mình nam chổ hậu bộ, mặt đối mặt, hai tay đè đầu gối mình để giữ thăng bằng. Ngồi lên cọc. 
Bối phi cưu: Nam nhân nằm ngữa, banh hai chân ra. Nữ nhân ngồi lên vị thế như trên nhưng đưa lưng về phía mặt của nam nhân (ngược lại vị thế trên ), đầu hơi cúi xuống như nhìn âm hộ mình, để âm hộ căng ra hơn. 
Ân cái công: Nữ nhân nằm ngữa hai chân giơ lên không và sát vào nhau, duỗi song song. Nam nhân ngồi hay đứng ở phía dưới hậu thân của nữ, hai tay ôm eo nam. Dâm thẳng vào. 
Lâm đàn trúc: Nam nữ đứng thẳng ôm nhau như hai cây tre trong một bụi tre. Miệng hôn lên miệng, phía dưới dương cụ đâm thẳng vào âm hộ. 
Loan song vũ: Hoặc nam nằm sấp, hoặc nữ nằm úp lên nam, vị thế là hai bên chồng lên nhau và đối mặt. Hai cơ quan đối diện nghinh tiếp nhau. 
Phượng tương xu: Nếu nữ nhân có thân thể to lớn mà giao hợp với nam nhân mảnh dẻ thì dùng thế nam nhân nằm trên. Vị thế và hình dạng này giống như phượng hoàng ôm con vào lòng cho con bú. 
Hải âu đực: Như đàn chim xòe cách, nam nhân đứng dưới giường nắm hai chân nữ nhân đang nằm trên giường mà banh ra. Đâm vào. Dã mã đề: 
Như chân con ngựa hoang, hai chân của nữ nhân gác lên hai vai nam nhân, một chân được chính tay nàng kéo co lên để tạo thế chênh chếch của âm hộ. 
Bạch hổ thắng: Nữ nhân nằm ngữa, hai chân dang thẳng ra. Nam nhân quỳ ở chổ hậu thể nữ nhân giữa hai chân nữ. Hai tay câu cổ nữ nhân. Đâm thẳng vào. 
Huyền đàn bộ (mất đoạn này) 
GHI CHÚ: 
Cuộc sống bận rộn kinh tế, đời sống bon chen chật vật, vợ chồng đã hiểu nhau nhiều thì cuộc giao hợp mất đi nhiều tính hiếu kỳ và hứng thú. Nếu thương yêu nhau mà giao hợp thì giao hợp cho có, theo bản năng, thì chỉ là theo lẽ " hứng thì làm ", phát tiết dục tình chứ khôn